
(Khuyến khích xem blog bằng web cho phép chạy âm thanh để thư giãn)
Sẽ có cập nhật mới cho bài đăng - các bạn đón xem nhé!
Kaguya, “Nàng tiên ống tre” hay “Công chúa Mặt trăng” xuất hiện trong rất nhiều phiên bản. Dù có nhiều phiên bản nhưng kết thúc câu chuyện đều là cảnh các sứ giả Mặt Trăng xuống Trái Đất để đón nàng công chúa trở về. Cô ra đi và trao lại những món quà: một chiếc áo choàng cho gia đình ông lão và thuốc trường sinh cho cha hoặc nhà vua.
Kaguya lớn lên trở thành một thiếu nữ nhan sắc chim sa cá lặn. Cuối cùng, có 5 vị hoàng tử đến nhà ông lão thuyết phục ông cho mình hỏi cưới Kaguya. Kaguya đành đánh đố các hoàng tử mỗi người phải đem tới cho mình một món đặc biệt. Đêm đó, ông lão dặn các hoàng tử ai phải mang gì. Hoàng tử đầu tiên được dặn đem đến chiếc bát của Đức Phật bên Ấn Độ, vị thứ hai là nhánh cây udonge châu báu từ núi Bồng Lai, vị thứ ba là chiếc áo lông chuột lửa huyền thoại ở Trung Quốc, vị thứ tư là viên đá ngũ sắc trên cổ con rồng Nhật và vị thứ năm là vỏ ốc con chim nhạn sử dụng làm bùa sinh sản.
1. Chiếc bát của Đức Phật:
Theo sự tích Đức Phật, Thái tử Tất Đạt Đa rời bỏ hoàng gia và cung điện để tìm con đường giải thoát cho chúng sinh, ban đầu Ngài cùng tu với năm anh em Kiều Trần Như với pháp tu khổ hạnh.

Sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, có hai thương gia tên là Trapusa và Bahalika được hai vị chư Thiên mách rằng: Ở chỗ cây bồ đề có vị Phật xuất hiện. Các ông hãy đến đấy mà cúng dường Ngài để mà được phước báu. Vậy là, hai thương gia cùng nhau sắm sửa vật thực, mang đến Bồ đề Đạo tràng dâng cúng dường lên Đức Phật Bổn Sư. Đức Phật thọ nhận sự cúng dường của hai thương gia này. Lúc ấy, Đức Phật chưa có bình bát và ngay lập tức có bốn vị thiên vương hiện xuống, mỗi vị cúng dường cho Đức Phật một chiếc bình bát bằng ngọc rất quý của cõi trời. Đức Phật dùng thần lực hợp bốn chiếc bình bát thành một cái duy nhất để nhận vật thực cúng dường của hai người thương gia. Bình bát này về sau trở thành vật tùy thân của Đức Phật trong suốt 49 năm du hóa của Ngài.
Tính thiêng liêng và tính thẩm mỹ đã nâng tầm chiếc bát lên thành một “đạo” trong không gian tĩnh lặng của thiền đường hoặc tu viện. Không chỉ là chiếc bát mà là một lễ nghi. Ōryōki, thường được dịch là “vừa đủ”, là một lễ nghi có tính tổ chức cao, đem lại nhận thức sâu sắc về cho và nhận thức ăn.
Trong tiếng Nhật, ba từ Ō - ryō - ki có nghĩa:
- 応 ō: sự đáp lại của người nhận về cung cấp thức ăn.
- 量 ryō: sự ước lượng, hay mức được nhận.
- 器 ki: cái bát.
Ōryōki được xem như một dạng thiền ăn, với dụng cụ có xuất xứ Nhật Bản và chú trọng thực tập tỉnh thức bằng cách tuân theo một thứ tự chặt chẽ các thao tác chính xác. Như vậy, ōryōki hợp nhất đời sống hàng ngày và tu tập tâm linh. Ōryōki pha lẫn thiêng liêng và trần tục.

Đầu
tháng 5-2014, một nhóm các quan chức của Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI) đến Kabul
để chính thức kiểm tra xem liệu di tích khổng lồ được lưu giữ trong Bảo tàng Quốc
gia Kabul thực sự là ‘chiếc bát khất thực’ mà Đức Phật đã sử dụng trong thời
gian ở Vaishali vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.
Vấn đề này đã được đưa ra ánh sáng
và được theo đuổi sau khi nhà lãnh đạo RJD tiến sĩ Raghuvansh Prasad Singh đã hỏi
về điều này ở Quốc hội năm ngoái và chất vấn tại sao Ấn Độ không nỗ lực để đưa
nó trở lại. Hiện vật được cho là ‘chiếc bát khất thực’ đang được lưu giữ tại Bảo
tàng Quốc gia Kabul.
2. Nhánh cây Udonge từ núi Bồng Lai:
Nhánh cây Udonge hay còn được gọi là nhánh cây sung (hoa của cây sung tên là Hoa Ưu Đàm còn có tên gọi khác là Ưu Đàm Bà La Hoa Hay Hoa Ô Đàm tên tiếng Phạn và Pali là Udumbara). Hoa có kích thước rất nhỏ, chỉ khoảng vài milimet và có màu trắng tinh. Tuy sở hữu hình dạng nhỏ bé, mong manh nhưng hoa ưu đàm lại có hương thơm vô cùng nhẹ nhàng.
Hoa Ưu
Đàm có ý nghĩa quan trọng trong Phật Giáo. Loài hoa này được nhiều người tin rằng
đã xuất hiện cùng với Đức Phật từ khoảng 3000 năm trước. Tương truyền, khi Phật Thich ca Mâu Ni ra đời,
trong ngày hôm ấy, thời tiết và khí hậu thay đổi đột ngột, tất cả các cây sung
tại Ấn Độ đều đồng loạt ra trái, chín và nứt ra, các nhị hoa trong trái sung đều
xòe ra, tỏa mùi thơm của sung chín ngào ngạt.
Theo Phật giáo, màu trắng của Hoa Ưu Đàm tượng
trưng cho sự tinh khiết, trong sạch của con người, mang đến điềm lành từ cõi niết
bàn, chỉ khai nở 3.000 năm một lần. Ngoài ra, đây cũng chính là dấu hiệu của Đức
Như Lai hay Pháp Luân Thánh Vương (Di Lặc) xuất hiện trên nhân gian. Loài hoa
này từng được một vị thiền sư người Nhật, theo Đạo Nguyên Hi Huyền cho rằng đã
được Phật Thích Ca Mâu Mi đặt trên đỉnh núi Linh Thứu.
Trong kinh Phật quả thật có loài hoa Udumbara
(tiếng Sanskrit, Pali và Devanagari đều viết là उडुम्बर), một
loài đã từng xuất hiện trong Diệu pháp liên hoa kinh (chương 2 và 27). Udumbara
có nghĩa là cây sung (hoặc hoa cây sung), tên khoa học hiện nay là Ficus
Glomerata hay Ficus Racemosa.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, đây là sinh vật bậc thấp có tính nhầy, hay được
biết đến là nấm nhầy, thường phát triển trong điều kiện sinh thái ẩm ướt, trên kim
loại đồng, đá, sắt, gỗ, thanh thép, lá cây, hoa quả,... Lý do khiến cho người dân liên tục đồn đại rằng
loại nấm này là Hoa Ưu Đàm chẳng qua chỉ là do sự xuất hiện đặc biệt của chúng
trên tượng Phật tại một số ngôi chùa. Thực chất, đây là một loại nấm dại thường phát triển dưới nhiều điều kiện môi trường và các chất liệu khác nhau như kim loại đồng, đá, sắt, gỗ, thanh thép, lá cây, hoa quả... Nếu Hoa Ưu Đàm trong kinh Phật là hoa sung thì
có khả năng chúng là hoa ẩn, vì những trái sung mà ta thấy bám đầy trên cây
chính là… hoa sung. Nói cách khác, trái sung là trái giả, trên thực tế chúng là
những đài hoa bao bọc bên ngoài, còn phần bên trong là những cánh hoa, vòi và
nhị hoa.
Núi Bồng Lai (tên tiếng Nhật là Horai) là một
vùng đất trong thần thoại Trung Quốc. Theo Sơn Hải kinh, núi Bồng Lai nằm trên
một hòn đảo ở rìa phía đông của vịnh Bột Hải, cùng với 4 đảo khác trên đó các vị
tiên sống, gọi là Phương Trượng (方丈) tiếng
Nhật là Hojo, Doanh Châu (瀛州) tiếng
Nhật là Eishu, Đại Dư (岱輿) tiếng
Nhật Daiyo và Viên Kiều (員嬌) tiếng
Nhật là Inkyo. Người ta cho rằng ngọn núi này có thể được nhìn thấy dưới dạng
các ảo ảnh trên biển. Đây được coi là nơi Tiên ở theo quan điểm của Đạo giáo.
Nhưng việc thành phố này có phải là nơi trên thực tế được miêu tả trong các
truyền thuyết hay không vẫn là điều chưa rõ.
Tuy nhiên, thực tế tại tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc)
vẫn có Thành phố cấp huyện tên là Bồng Lai và người dân địa phương ở đó tự hào
và tuyên bố rằng một khu vực có cảnh quan đẹp trong thành phố này chính là điểm
đến của Bát Tiên. Nay nó được cho là để chỉ Đài Loan.

Nhánh cây Udonge hay còn được gọi là nhánh cây sung (hoa của cây sung tên là Hoa Ưu Đàm còn có tên gọi khác là Ưu Đàm Bà La Hoa Hay Hoa Ô Đàm tên tiếng Phạn và Pali là Udumbara). Hoa có kích thước rất nhỏ, chỉ khoảng vài milimet và có màu trắng tinh. Tuy sở hữu hình dạng nhỏ bé, mong manh nhưng hoa ưu đàm lại có hương thơm vô cùng nhẹ nhàng.
Theo Phật giáo, màu trắng của Hoa Ưu Đàm tượng trưng cho sự tinh khiết, trong sạch của con người, mang đến điềm lành từ cõi niết bàn, chỉ khai nở 3.000 năm một lần. Ngoài ra, đây cũng chính là dấu hiệu của Đức Như Lai hay Pháp Luân Thánh Vương (Di Lặc) xuất hiện trên nhân gian. Loài hoa này từng được một vị thiền sư người Nhật, theo Đạo Nguyên Hi Huyền cho rằng đã được Phật Thích Ca Mâu Mi đặt trên đỉnh núi Linh Thứu.
3. Chiếc áo lông chuột lửa huyền thoại ở Trung Quốc:
Chiếc áo này được dệt từ những sợi lông của yêu quái chuột lửa (Hinezumi). Chuột lửa là một sinh vật huyền thoại của Trung Quốc được cho là sống trong một cái cây không bao giờ cháy ở núi lửa Biển Đông, Nó là một con chuột lớn nặng khoảng 250kg, có lông dài 50cm, mỏng hơn sợi tơ và có bộ lông chống cháy. Theo một giả thuyết, nó được cho là sống ở núi Côn Lôn (Trung Quốc). Cơ thể của nó có màu đỏ khi ở trong lửa và màu trắng khi ở bên ngoài. Người ta nói rằng nếu bạn đổ nước lên nó khi nó đang ở ngoài lửa, nó sẽ chết.
Sử sách kể rằng có một loại vải rất đặc biệt gọi là vải hỏa cán tương truyền là vải chịu lửa. Có nhiều thuyết khác nhau cho rằng vải “hỏa cán” được dệt bằng lông con hỏa thử (chuột lửa); thuyết thì nói nó được làm bằng vỏ cây, lá cây bị lửa thiên nhiên thiêu (sét đánh) nhưng không nát, người ta lấy vỏ hoặc lá ngâm đi sau dệt thành vải, có thể dệt bằng lửa; nhưng có lẽ đây là loại vải giặt bằng lửa vì trong Hán tự chữ “hoãn” cũng đọc là cán, có nghĩa là giặt, lúc giặt phải dùng lửa, sách Liệt Tử của Trung Quốc viết rằng giặt bằng lửa, khi ở trong lửa đem vải ra giũ đi trông óng ánh như tuyết.
Trong lịch sử Việt Nam, hoàng cung nhà Trần cũng có một tấm vải “hỏa cán” (hay gọi là hỏa hoãn). Xuất xứ của tấm vải này được sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết như sau: “Buổi đầu dựng nước, thuyền buôn nước Tống sang dâng người nước Tiểu Nhân, thân dài 7 tấc, tiếng như ruồi nhặng, không thông ngôn ngữ, lại dâng một tấm vải hỏa hoãn giá mỗi thước 300 quan tiền, lưu truyền làm của quý. Sau đem may áo vua, cắt hơi ngắn, bèn sai cất trong nội phủ”.
4. Viên đá ngũ sắc trên cổ con rồng Nhật:
Rồng vàng: hay Hoàng Long đại diện cho yếu tố Thổ, bảo vệ trung tâm và là thủ lĩnh của các con rồng khác. Hoàng Long được cho là thể hiện uy quyền của hoàng đế, trong các yếu tố văn hóa dân gian cho rằng nó là một con rồng sáng bằng vàng (hoàng, 黃). Hoàng Long còn được gọi là Koryu trong tiếng Nhật.
5. Vỏ ốc của con chim nhạn:
Vỏ ốc ở đây là chỉ ốc sứ vân hổ (Takaragai hay Cypraea Tigris) là một loài ốc biển trong họ ốc Cypraeidae, chúng là loài có vân hình chấm và có nét giống như sọc của con hổ. Vỏ nó tròn và sáng bóng, có kết cấu giống như sứ. Ở một số nơi, nó được sử dụng như tiền tệ , hoặc được sử dụng cho mục đích trang sức và nghi lễ. Ốc sứ vân hổ cũng là biểu tượng của nữ tính, thịnh vượng, sinh nở và giàu có, và được đeo làm đồ trang sức và bùa hộ mệnh. Trong Nàng Tiên Ống Tre, vỏ ốc này được sử dụng để làm bùa sinh sản. Điều này bắt nguồn từ thực tế là hình dạng của chiếc vỏ giống như bụng của một người phụ nữ mang thai và khi nhìn từ bên dưới, nó có liên quan đến bộ phận sinh dục và mắt của phụ nữ .
Chim
nhạn (én, Tsubame, Hirundinidae) là chỉ Nhạn Bụng Trắng (nhạn nhà) có lưng màu đen chàm bóng, cổ họng và trán có màu đỏ. Nó có một cái bụng màu trắng và một dải đen trên ngực. Đuôi dài và chẻ
sâu, hình dạng của đuôi này được gọi là đuôi én sau cánh én . Nó có đôi cánh lớn
và cơ thể thuôn dài thích hợp cho các chuyến bay. Chân của nó ngắn và không
thích hợp để đi lại, và nó hiếm khi hạ xuống đất trừ khi tìm bùn làm vật liệu
làm tổ.
Nhạn Bụng Trắng chỉ sinh sản khi tìm chỗ trú đông. Nó xây tổ bằng cách làm cứng bùn và cỏ khô bằng nước bọt. Vỏ sò, vỏ ốc cũng là nguyên liệu mà loài chim nhạn sử dụng để làm tổ, nhưng vì kích thước chúng khá nhỏ nên những vỏ sò, vỏ ốc này thường nhẹ. Việc tìm được vỏ ốc sứ vân hổ trong tổ của một con chim nhạn thật rất hiếm.
6. Thuốc trường sinh bất tử:
Có 2 cái kết khác nhau xoay quay viên thuốc trường sinh bất tử này trong Nàng Tiên Ống Tre.
Kết thứ nhất cho rằng trước khi đi về mặt trăng, vì vô cùng thương nhớ cha mẹ mình, công chúa đã để lại viên thuốc trường sinh bất tử và một bức thư để bày tỏ tấm lòng mình. Nhưng do quá nhớ con, cha mẹ nàng đã không uống thuốc trường sinh này mà lặn lội đến ngọn núi cao nhất Nhật Bản để đốt.

Tuy có 2 kết khác nhau cho viên thuốc này, nhưng cuối cùng nó đều bị đốt tại một ngọn núi nổi tiếng tại Nhật Bản mà ngày nay, theo dân gian người ta cho rằng đó là núi Phú Sĩ 🌄 “Fushi” 不(ふし) trong tiếng Nhật có nghĩa là bất tử. Thời gian qua đi, “Fushi no yama” 不死の山(ふしのやま)được đọc lái sang thành “Fujisan” 富士山(ふじさん), trong tiếng Việt của chúng ta gọi là “núi Phú Sĩ”. Ngày nay, mọi người vẫn thường nhắc đến tên gọi núi Phú Sĩ với ý nghĩa "núi có nhiều binh sĩ" ("sĩ" là trong từ "binh sĩ") bắt nguồn từ việc quân lính của Thiên hoàng leo lên núi để thực hiện lời vua.











